Doanh nghiệp xác thực IP người dùng khi cung cấp dịch vụ trực tuyến
Luật An ninh mạng: Quy định mới về định danh địa chỉ IP
Dự luật An ninh mạng đang được xem xét và thảo luận trong Quốc hội, với nhiều quy định mới nhằm đảm bảo an toàn thông tin và ngăn chặn các hành vi vi phạm trên không gian mạng. Trong đó, một nội dung quan trọng là việc doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet phải thực hiện định danh địa chỉ IP của tổ chức và cá nhân sử dụng dịch vụ.

Nội dung này được nêu rõ trong báo cáo thẩm tra dự án Luật An ninh mạng do Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tới trình bày trước Quốc hội vào sáng ngày 31-10. Theo đó, việc định danh địa chỉ IP sẽ giúp lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng dễ dàng quản lý và theo dõi các hoạt động có thể gây nguy hiểm đến quốc gia.
Các quy định chính trong dự luật
Dự án Luật An ninh mạng gồm 9 chương, 58 điều, trong đó có 3 điều khoản kế thừa từ Luật An ninh mạng năm 2018 và 16 điều khoản kế thừa từ Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Ngoài ra, còn có 9 điều khoản hợp nhất và bổ sung 3 điều khoản mới. Những quy định được sửa đổi tập trung vào:
- Bảo đảm an ninh dữ liệu: Đảm bảo thông tin được lưu trữ và truyền tải một cách an toàn, tránh rủi ro bị rò rỉ hoặc mất mát.
- Trách nhiệm định danh địa chỉ IP: Doanh nghiệp phải xác định và cung cấp địa chỉ IP của người dùng cho lực lượng chuyên trách để phục vụ công tác quản lý an ninh mạng.
- Kinh phí bảo vệ an ninh mạng: Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước phải dành kinh phí cho việc bảo vệ an ninh mạng.
- Khuyến khích sử dụng sản phẩm công nghệ Việt Nam: Hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp an ninh mạng trong nước.
- Cấp chứng chỉ an ninh mạng: Đảm bảo các tổ chức và cá nhân tuân thủ các tiêu chuẩn an ninh mạng.
Các hành vi bị nghiêm cấm
Dự luật cũng quy định rõ những hành vi bị cấm trong lĩnh vực an ninh mạng, bao gồm:
- Sử dụng không gian mạng để đăng tải, phát tán thông tin tuyên truyền chống nhà nước.
- Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, chủng tộc.
- Bịa đặt, vu khống, vu cáo sai sự thật, xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
Trách nhiệm của doanh nghiệp
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng có trách nhiệm:
- Tuân thủ quy định pháp luật về an ninh mạng, cảnh báo khả năng mất an ninh khi sử dụng dịch vụ.
- Định danh địa chỉ IP của người dùng và cung cấp thông tin cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.
- Xây dựng phương án phản ứng nhanh với sự cố an ninh mạng, xử lý điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, mã độc, tấn công mạng.
- Áp dụng các giải pháp kỹ thuật để bảo đảm an ninh trong quá trình thu thập thông tin, ngăn chặn rủi ro lộ, lọt dữ liệu.
- Phối hợp với lực lượng chuyên trách trong việc thiết lập hệ thống kết nối, đấu nối đường truyền kỹ thuật, truyền tải dữ liệu và đáp ứng các điều kiện cần thiết.

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng cũng phải tuân thủ quy định pháp luật về an ninh mạng. Cụ thể:
- Bảo mật thông tin đăng ký, mở, quản lý, sử dụng tài khoản số.
- Nếu tài khoản số bị sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, chủ tài khoản sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Cung cấp thông tin, tài liệu trung thực, đầy đủ theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
- Thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền trong bảo vệ an ninh mạng.